Bãi container: cần bao nhiêu ô, bao nhiêu đất?
Nhập sản lượng và thời gian lưu bãi thật của cảng, ICD — máy tính số ô nền, diện tích khu xếp chồng, số lần đảo chuyển và số thiết bị giờ cao điểm, so ba mức chồng tầng.
Mô hình tính thế nào, và không tính gì
Ô nền (TGS) = TEU/năm × ngày lưu bãi ÷ 365 × hệ số đỉnh ÷ (tầng chồng × hệ số lấp đầy) — công thức quy hoạch bãi chuẩn. Hệ số lấp đầy chừa ô trống để còn chỗ đảo container.
Đảo chuyển không lấy từ bảng tra mà từ chính mô phỏng bãi của trang Điều độ cảng: xếp đầy một khối, lấy container theo thứ tự ngẫu nhiên, đếm số lần phải nhấc container đè lên trên (luật min-max). Đây là cận trên — bãi có kế hoạch xếp theo tàu hoặc chủ hàng đảo ít hơn.
Thiết bị = lượt giờ cao điểm (vào + ra + đảo) ÷ (năng suất × 85%). Diện tích dựng từ hình học khối bãi ghi ngay dưới bảng kết quả.
Không tính: container lạnh (ổ cắm điện), hàng nguy hiểm tách khu, container rỗng chồng cao hơn, cổng, bãi chờ xe, kho CFS, đường nội bộ chính. Dùng để lập đầu bài sơ bộ; chốt quy hoạch cần dữ liệu luồng hàng thật.
Câu hỏi thường gặp
Chồng cao hơn có luôn lợi hơn không?
Không. Chồng thêm một tầng bớt khoảng 20% số ô nền, nhưng mỗi lần lấy container phải đảo nhiều hơn — từ khoảng 0,6 lần ở 4 tầng lên 0,7 lần ở 5 tầng khi lấy ngẫu nhiên — nên số lượt thiết bị tăng. Đất đắt thì chồng cao; đất rẻ, sản lượng lớn thì chồng thấp để thiết bị chạy nhanh.
Thời gian lưu bãi ảnh hưởng thế nào?
Tỉ lệ thuận: lưu bãi 10 ngày cần gấp đôi số ô so với 5 ngày cho cùng sản lượng. Rút ngày lưu bãi (miễn phí lưu ngắn, thông quan nhanh) thường rẻ hơn mở thêm đất.
RTG hay reach stacker?
Reach stacker đầu tư thấp, linh hoạt nhưng cần lối rộng nên tốn đất — khoảng 50–55 m² mỗi ô nền theo giả định ở đây. RTG xếp khối 6 hàng sát nhau, chỉ khoảng 32–35 m² mỗi ô nền, hợp bãi sản lượng lớn trên đất hẹp.
Có thông số thật của dự án? Gửi cho CGD, nhận phản hồi về phạm vi thiết kế
Mô phỏng này dừng ở nguyên lý. Với dự án cụ thể, CGD dựng mô hình trên dữ liệu khai thác thật và bản vẽ mặt bằng.
Gửi yêu cầu tư vấn